HT STROKEND

Bệnh nhân bị ngất

I. ĐẠI CƯƠNG

Ngất được định nghĩa là sự mất ý thức thoáng qua, không có khả năng duy trì trương lực tư thế và tự phục hồi hoàn toàn ý thức. Định nghĩa ngất loại trừ co giật, hôn mê, sốc, hoặc các tình trạng rối loạn tri giác khác.

II.CHẨN ĐOÁN

1. Lâm sàng

1.1. Việc hỏi kỹ bệnh sử về khám thực thể tỉ mỉ có thể chẩn đoán ngất được trong 50%-85% bệnh nhân. Hỏi và khám lâm sàng cần trả lời các câu hỏi:
– Mất ý thức hoàn toàn hay không?
– Mất ý thức xảy ra nhanh chóng và kéo dài trong thời gian ngắn?
– Phục hồi tự phát, hoàn thành, và không để lại di chứng?
– Mất trương lực tư thế?
Nếu câu trả lời cho những câu hỏi trên dương tính, khả năng cao bệnh nhân bị ngất. Nếu một hoặc nhiều câu trả lời là âm tính, nên cần xét các nguyên nhân mất ý thức khắc phục trước khi tiến hành đánh giá ngất.
. 1.2. Khám thực thể cả bệnh nhân ngất. Luôn luôn phân tích các dấu hiệu sinh tồn:sốt có thể là yếu tố thúc đẩy ngất. Huyết áp và nhịp tim thay đổi theo tư thế có thể chỉ điểm ngất do nguyên nhân tự thế.Khám thần kinh là cơ sở xác định bất thường thần kinh mới xuất hiện hay tình trạng cổ sẵn nặng thêm. Tìm dấu hiệu chấn thương.Chấn thương lưỡi thường gặp trong động kinh, cần phân biệt chấn thương gây mất tri giác.
1.3. Chẩn đoán phân biệt với ngất bao gồm nhiều bệnh: co giật do bệnh tiểu đường, đột quỵ, huyết khối tĩnh mạch sâu, hoặc phình động mạch chủ bụng, hoặc nếu mang thai cũng có thể xảy ra.

2. Xét nghiệm cần làm

– Xét nghiệm máu và nước tiểu: Đường huyết, công thức máu,điện giải đồ máu và chức năng thận, men tim, tổng phân tích nước tiểu.
– Xét nghiệm ảnh: X-quang ngực, siêu âm tim, CT đầu,ngực hay bụng, MRI não, ECG, Holter ECG, nghiệm pháp
bàn nghiêng, EEG, nghiêng pháp gắng sức.

3. Chỉ định thăm điện sinh lý tim trên bệnh nhân ngất

Một số tình huống sau có thể cần thiết cho thăm dò điện sinh lý tim:
– Bệnh nhân có bệnh tim thiếu máu cục bộ được chỉ định thăm dò điện sinh lý tim nếu các xét nghiệm ban.đầu gợi ý nguyên nhân ngất là do rối loạn nhịp trừ khi đã có chỉ định đặt máy khử rung.
– Bệnh nhân có nhánh cần cân nhắc thăm dò điện sinh khi các thăm dò.không xâm.nhập không chẩn đoán được.
– Bệnh nhân bị ngất có cảm giác hồi hộp xuất hiện đột ngột điện sinh lý tim khi các thăm dò không xâm nhập không
chẩn đoán được
– Bệnh nhân cổ hội chứng Brugada, bệnh cơ tim loạn nhịp sinh ra từ thất phải và bệnh cơ tim phì đại, có thể tiến hành thăm dò điện sinh lý tim ở những trường hợp thích hợp.
– Bệnh nhân trong các ngành nghề có nguy cơ cao cần phải loại trừ nguyên nhân ngất do bệnh lý tim mạch, có thể tiến hành thăm dò điện sinh lý tim ờ trường hợp thích hợp.
– Thăm dò điện sinh lý tim không được khuyến cáo ờ những bệnh nhân có ĐTĐ bình thường, không có bệnh tim và
không hồi hộp.

4. Chẩn đoán xác định ngất

Đánh giá ngất cần trả lời 3 câu hỏi:
1. Đây có phải là một cơn ngất hay không?
2. Bệnh nguyên là gì?
3. Có dữ kiện gợi ý nguy cơ cao của các biến cố tim mạch hay tử vong không?
+ Chẩn đoán ngất: dựa vào thăm khám lâm sàng và các xét nghiệm bổ sung.
+ Chẩn đoán nguyên nhân: các đánh giá ban đầu có thểgiúp chẩn đoán nguyên nhân ngất

III.ĐIỀU TRỊ

Bệnh nhân ngất nhập phòng cấp cứu: lập đường truyền tĩnh mạch, cho thở oxy, theo dõi nhịp tim và HA. Đo ECG và xét nghiệm đường máu khẩn.Ngất có thể là biểu hiện tiến triển của bệnh nặng đe dọa ‘tính ‘ mạng mà cần nhận diện trên lâm sàng. Ngất phụ thuộc vào nguyên nhân và yếu tố thúc đẩy gây ngất. Nếu nguyên nhân chưa được xác định tại phòng cấp cứu cần theo dõi và chăm sóc hỗ trợ.Giáo dục bệnh nhân để tránh bị ngất.

IV. THEO DÕI

Theo dõi đúng chuyên khoa tùy theo nguyên nhân gây ngất.